Vườn Phong Cảnh Kiểu Anh Và Cuộc Tranh Luận Về Bản Tính Của Một Khu Vườn

  • Tác giả: Kỳ Phong
  • Đăng ngày: 04/11/2025

Tôi đã phân vân rất nhiều trước khi chọn Vườn Phong cảnh kiểu Anh (English Landscape Garden) làm chặng tiếp theo trong hành trình tìm hiểu về các phong cách của một khu vườn vì ở Việt Nam, không có nhiều người biết đến nó. Trong các cuộc trò chuyện thông thường lúc trà dư tửu hậu hay trong những cuốn sách về Kiến trúc Cảnh quan, người Việt Nam thường chỉ nhắc đến Vườn Cổ điển Pháp (Jardin à La Française) khi nói về nghệ thuật hoa viên của châu Âu hay thậm chí đồng nhất tất cả những khu vườn có lịch sử lâu đời ở châu lục này thành một kiểu đối xứng và trật tự với cái tên “vườn Âu”. Mà như vậy nghĩa là trực tiếp bỏ qua những kiểu vườn hấp dẫn đã có từ thời Trung cổ hoặc Cận đại như vườn Phong cảnh, vườn Nông thôn Anh quốc… hay vườn Nhiệt đới. Thật ra, chuyện đó không khó hiểu vì sự nổi tiếng và ảnh hưởng sâu rộng của phong cách Cổ điển Pháp trên khắp lục địa già là không thể phủ nhận được. Nhưng đa số không có nghĩa là tuyệt đối. Và với những người thích dạo chơi trong một hoa viên dịu dàng, thư giãn bằng cách ngắm nhìn những khung cảnh đẹp như tranh vẽ thì vườn Cổ điển Pháp không phải là một lựa chọn tối ưu, ngay cả khi họ đang sở hữu một căn biệt thự mang phong cách Âu châu. Vậy nên, trong số thứ tư của loạt bài “Phong cách của một khu vườn”, tôi sẽ dẫn mọi người dạo quanh những vùng ngoại ô xinh đẹp của nước Anh để tìm hiểu về một phong cách vườn phù hợp với người thích ngao du, ngắm cảnh và sở hữu một điền trang rộng lớn.

Những khu vườn cảnh có quy mô lớn đầu tiên trên đảo Anh xuất hiện vào thời Phục Hưng, khi mà những tiến bộ về khoa học và tư tưởng đã thách thức cả trật tự xã hội lẫn đức tin Công giáo. Bắt đầu từ những khu vườn mê cung và những cụm cây tạo hình vào thế kỉ XVI, đến kiểu vườn pha trộn có chừng mực những phong cách châu Âu vào thế kỉ XVII, nghệ thuật hoa viên ở vương quốc Anh đã được đà phát triển và lan rộng vào thế kỉ XVIII, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Tại sao lại như vậy? Chẳng phải là phần lớn tài sản của quốc gia đều đổ về thành thị hay sao? Chẳng phải thành thị đông đúc và ngột ngạt mới cần mảng xanh hay sao? Thế thì điều gì đã làm cho nghệ thuật hoa viên phát triển mạnh mẽ ở nông thôn Anh quốc vào thế kỷ XVIII? Nếu bạn cũng đang thắc mắc điều đó thì hãy cùng tôi nhìn vào bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Vào cuối thế kỉ XVII, những biến động chính trị sau cuộc cách mạng năm 1688 đã làm nhiều quý tộc Anh đã bắt đầu chuyển sang chăm chút cho những dinh thự nông thôn thay vì giành chỗ trong cung điện hoàng gia, đặc biệt là những người theo đảng Whig. Bên cạnh đó, ảnh hưởng trực tiếp của việc trao đất thuộc sở hữu tập thể cho một số cá nhân theo Bộ luật Hợp thức hóa Đất đai đã tăng cường tiềm lực kinh tế và chính trị cho tầng lớp tiểu địa chủ, mở đường cho những điền trang rộng lớn thuộc sở hữu tư nhân ở Anh vào đầu thế kỷ XVIII. Bối cảnh ấy đã biến nông thôn nước Anh thành nơi mà những kiến trúc sư và nghệ nhân làm vườn có thể tìm thấy nhiều cơ hội và triển khai nhiều ý tưởng mới. 

Tại sao lại là những ý tưởng mới nhỉ? Kiểu vườn pha trộn, mang hơi hướng chiết trung của thế kỷ XVII đâu rồi? Sao người ta không tiếp tục tạo ra những khu vườn kiểu đó vào thế kỷ XVIII? Ai đã khiến người Anh thay đổi gu thưởng thức nghệ thuật hoa viên? Câu trả lời nằm trong nền chính trị đầy biến động của thể chế Quân chủ Lập hiến còn non trẻ. Hay nói rõ ràng hơn thì:

Chính trị Anh vào thế kỷ XVIII đã mở đường cho sự khai sinh của Vườn Phong cảnh

Bên cạnh việc kêu gọi một nền chính trị cởi mở hơn thì những tên tuổi lớn trên chính trường và trong dư luận lúc bấy giờ cũng lên tiếng cho một phong cách cảnh quan tự do hơn, tự nhiên hơn và Anh hơn. Khởi đầu với phản đối kịch liệt của Joseph Addison, Alexander Pope, Anthony Ashley Cooper… về tình trạng độc tôn của các kiểu vườn ngoại quốc trên đảo Anh, tiếp nối bằng sự nhạo báng công khai các kiểu vườn tạo hình, giới tinh hoa Anh quốc đã nêu ra tư tưởng xem tự nhiên là “Thần khí của khu vườn”, là lực lượng “tạo ra nghệ thuật từ mỗi cái cây mà con người trồng xuống”. Vậy là triết lý chung cho sự cải tổ việc thiết kế cảnh quan đã hình thành. Nhưng người ta không thể tạo ra một khu vườn chỉ với triết lý, người ta còn cần đường nét, bố cục và màu sắc. Mà những chính trị gia thì thường không rành về chuyện ấy. Đổi lại thì, họ có những bức tranh. Tại sao tôi lại nói như vậy? Tại vì những bức tranh làm cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn: Từ cuối thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỉ XVIII, người dân Anh rất thích, thậm chí là tôn sùng những bức tranh phong cảnh của các họa sĩ Pháp như Claude Lorrain và Nicholas Poussin vì sự pha trộn khéo léo giữa khung cảnh đồng quê và hình tượng anh hùng. Và bởi vì thế mà chúng ta có thể tự tưởng tượng rồi ngầm hiểu rằng những khu vườn phong cảnh đầu tiên ở Anh đã được tạo ra từ các yêu cầu đại khái như: “Ta muốn có một khu vườn trông giống bức tranh phong cảnh này”. Mà lỡ có không phải như thế thì chính Alexander Pope đã nói “làm vườn là vẽ tranh phong cảnh”, và Horace Walpole cũng từng nhận định rằng tranh của Claude Lorrain đã ảnh hưởng đến sự phát triển của vườn phong cảnh Anh quốc. Nhưng nếu tranh ảnh là nguồn cảm hứng đầu tiên, thì thơ ca – với khả năng khơi gợi cảm xúc – lại là dòng chảy xuyên suốt trong cách người Anh cảm và tạo vườn.

Tiếp theo, chúng ta sẽ cùng bước vào giai đoạn hình thành đầu tiên của Vườn Phong cảnh Anh – nơi một họa sĩ bước ra từ sân khấu đã khởi xướng một cách tiếp cận hoàn toàn mới với tự nhiên: William Kent.

Bên cạnh tranh phong cảnh thì sự ảnh hưởng của thơ ca đến Vườn Phong cảnh Anh quốc giai đoạn đầu là không thể phủ nhận.

Sau những chuyến du ngoạn đến vùng Địa Trung Hải và những cuộc dạo chơi trên đất Ý, nhiều quý tộc Anh đã ấn tượng và tỏ ra thích thú với cách mà người Ý gửi gắm vào khu vườn ý thơ của các thi sĩ thời La Mã cổ đại như Publius Ovidius Naso (Ovid), Publius Vergilius Maro (Virgil), Gaius Plinius Caecilius Secundus (Pliny the Younger)… Chính vì thế mà những khu vườn Anh đầu thế kỷ XVIII do các quý tộc “mở hầu bao” cũng mang nhiều hàm ý tương tự. Việc này, xét về bản chất thì không thống nhất với những lời chỉ trích gay gắt thuở ban đầu khi nhắc đến các kiểu vườn ngoại quốc trên đảo Anh. Nhưng nói cho cùng thì kiểu vườn mang nhiều ẩn ý đó không hề được nhân rộng vì các tiểu điền chủ, những người đầu tư xây dựng phần lớn các vườn cảnh vào nửa sau thế kỷ XVIII, không đủ khả năng và cũng không sẵn sàng học cách hiểu những câu thơ cổ. Dù sao thì họ cũng nhận được một nền giáo dục khiêm tốn hơn tầng lớp quý tộc và không có sở thích nghiên cứu về văn chương. Dẫu vậy, tính thơ ca trong vườn Phong cảnh Anh quốc là không thể thiếu trong suốt thế kỷ XVIII và người tiên phong trong việc kiến tạo một khu vườn phong cảnh đậm chất thơ là:

William Kent (1685 – 1748)

Kent khởi đầu sự nghiệp của mình dưới vai trò một họa sĩ rồi du học Ý mười năm trước khi trở về Anh với công việc vẽ tranh và thiết kế sân khấu. Ông chuyển sang thiết kế cảnh quan khi đã không còn trẻ nhưng vẫn là người tiên phong trong công cuộc dung dị hóa nghệ thuật hoa viên, tạo ra những khu vườn “không cần tiêu chuẩn hay phương pháp” cứng nhắc.

Trong khoảng thời gian ở Ý, ông đã có dịp nhìn thấy sự suy tàn phủ lên những khu vườn Phục Hưng bị bỏ hoang vẻ ngoài huyền bí và cuốn hút, suy tư về một khung cảnh mà sự đổ nát, lộn xộn cùng tồn tại bên cạnh những đường nét gọn gàng và trật tự. Khi bắt tay vào thiết kế những khu vườn, ông dụng tâm tái tạo những hình ảnh đó bằng cách không ngần ngại thêm vào những di tích nhân tạo (fabrique) hay thậm chí là trồng một cái cây chết để tạo nên cảm giác chân thực nhất cho người thưởng ngoạn. Thăm thú khu vườn do ông thiết kế, khách tham quan sẽ tiến vào con đường đi qua các phân cảnh của một vở kịch lớn. Với kinh nghiệm và kỹ năng của một họa sĩ và một người thiết kế sân khấu, Kent biết cách tạo ra những góc nhìn lý tưởng để minh họa cho một phân cảnh, một áng văn, một ý thơ hay một sự kiện lịch sử. Dĩ nhiên, không phải ý tứ ẩn dụ nào cũng dễ hiểu nên Kent đã “hỗ trợ” người thưởng ngoạn bằng cách đặt ra những cái tên gợi ý như “Cánh đồng Elysian” hay “Sân Praeneste”. Ờ thì… cũng không dễ hiểu lắm, nhất là với những người không học về văn chương cổ điển Tây phương như chúng ta.

Bên cạnh đó, Kent còn dùng những điểm phối cảnh chéo bên ngoài “cảnh trí” để thu hút những người đang dạo chơi tiến tới và bất ngờ trước một khung cảnh hoàn toàn khác nằm cách chỗ họ vừa đứng không xa. Chính nhờ kỹ thuật đó mà ông có thể mang tới nhiều trải nghiệm, mở ra nhiều khung cảnh trên một diện tích vườn khiêm tốn. Sự thành công của Kent và kiểu vườn được thiết kế như một chuỗi tranh phong cảnh đậm chất thơ ca đã mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của vườn Phong cảnh Anh trong suốt thế kỷ XVIII. Và chính người kế nhiệm ông – một kiến trúc sư cảnh quan đầy bản lĩnh, người được gọi là “Brown Tài Ba” – đã đưa phong cách này chạm tới đỉnh cao nghệ thuật và mở ra một cuộc tranh luận kéo dài suốt thế kỷ:

Lancelot Brown – và câu hỏi lớn: Bản tính thực sự của một khu vườn là gì?

Brown Tài Ba – Lancelot Brown (1715 – 1783)

Brown Tài Ba (Capability Brown) là tên mà dân Anh dùng để gọi Lancelot Brown (1715 – 1783), người đưa vườn phong cảnh Anh chạm tới đỉnh cao về mặt diễn đạt. Trong những thiết kế của ông, cảnh quan không còn là phương tiện để diễn tả một câu chuyện mà là chính câu chuyện ấy, tình tự và đậm chất thơ. 

Điều mà ông quan tâm nhiều nhất khi bắt tay vào công việc thiết kế là sự hài hòa của đường nét. Chính vì thế mà những khu vườn do ông kiến tạo nên đều mượt mà và uyển chuyển với những con đường uốn lượn, những dòng nước quanh co và sự chuyển tiếp nhẹ nhàng của cao độ. Ông loại bỏ tất cả những gì còn sót lại của kiểu vườn họa tiết, đưa bãi cỏ đến gần ngôi nhà và tạo nên những mặt nước rộng để cân bằng với công trình kiến trúc. Có thể nói, thiết kế của Brown nhẹ nhàng như khung cảnh một đôi tình nhân dìu nhau đi trên những triền dốc thoai thoải, tiến về phía một hồ nước trong xanh có đôi ba nếp nhà xinh xắn… một khung cảnh thích hợp để dạo chơi và tận hưởng vẻ đẹp thanh bình của miền quê. Tuy nhiên, bên cạnh những lời khen có cánh thì cũng không ít người đánh giá thiết kế của Brown quá “trống trải” và nhàm chán. Họ bảo rằng một khu vườn do ông tạo ra thì chẳng có cảnh vật tự nhiên nào để ngắm nhìn ngoài những dải đất uốn lượn nhẹ nhàng và đôi ba cụm cây thưa thớt. Và chính những khen – chê đi cùng sự thành công trong nghệ thuật hoa viên đã biến Lancelot Brown thành tâm điểm của cuộc tranh luận về: 

Bản tính của một khu vườn

Cuộc tranh luận này đã có từ những ngày đầu tiên của vườn phong cảnh Anh khi lý luận chống chủ nghĩa hình thức và kiểu vườn họa tiết phân hóa theo hai hướng: tự nhiên và tranh vẽ. Trường phái tự nhiên, với đại diện thành công nhất là Lancelot Brown, đưa vườn phong cảnh đến gần với sự hài hòa và cảm giác yên bình của nông thôn nước Anh. Đối với trường phái này thì thiên nhiên quả thật là “Thần khí của khu vườn” giống như Alexander Pope từng viết trong “Thư gửi bá tước Burlington” năm 1731. Trong khi đó, trường phái tranh vẽ, dưới sự ảnh hưởng của tranh phong cảnh Pháp cuối thế kỷ XVII và sự du nhập của vườn Trung Quốc, đã ủng hộ việc kiến tạo những khu vườn huyền bí, nhiều cảm xúc và sở hữu những khung cảnh kỳ vĩ. Đối với trường phái này thì một thiết kế phải đẹp như một bức tranh phong cảnh, nghĩa là phải khác với cái mà tự nhiên đã có.

Vào nửa sau thế kỷ XVIII, khi mà sở thích làm vườn và việc sở hữu một khu vườn ảnh hưởng đến địa vị xã hội của một người Anh thì cuộc tranh luận về bản tính của khu vườn trở nên nghiêm túc và quyết liệt hơn. Năm 1772, William Chambers (1723 – 1796) cho xuất bản cuốn “Bàn về Nghệ thuật Hoa viên Đông phương”, khởi xướng phong cách vườn huyền bí kiểu Trung Quốc để đối trọng với phong cách tự nhiên của Lancelot Brown. Trong cuốn sách này, ông phê bình những thiết kế của Brown là không khác gì với những thứ sẵn có ngoài tự nhiên. Mà như thế thì không phải là một khu vườn đúng nghĩa vì một khu vườn phải có sự can thiệp trực tiếp của con người, tức là có một phần của tính nhân tạo. Những người khác như Uvedale Price (1747 – 1829) và Richard Payne Knight (1751 – 1824) cho rằng kiểu vườn tự nhiên của Brown hoàn toàn thiếu nét riêng. Họ và những người ủng hộ yêu cầu một khu vườn phong cảnh phải có những hình ảnh gai góc, những yếu tố đối lập mà một người họa sĩ thường thể hiện trong tranh. Hay nói cách khác là họ bảo vệ tư tưởng: một khu vườn phong cảnh phải đẹp như tranh vẽ. Tư tưởng này đã được William Gilpin (1724 – 1804) ủng hộ, cụ thể hóa và mở rộng định nghĩa trong những cuốn “Quan sát sông Wye, và những nơi khác của miền Nam xứ Wales, chủ yếu liên quan đến vẻ đẹp như tranh” với tên gọi “Picturesque” (nghĩa là: Đẹp như tranh vẽ). Đi xa hơn thế kỷ XVIII một chút, khi mà cuộc tranh luận nảy lửa về phong cách thiết kế cảnh quan được khơi mào một lần nữa và cuối thế kỷ XIX, những người ủng hộ phong cách Picturesque mà tiêu biểu là John Claudius Loudon (1783–1843) đã đưa lý luận của mình lên một “tầm cao mới”.

Vào thời điểm đó, Loudon là một tác giả viết rất nhiều và rất có ảnh hưởng, ông phê bình phong cách tự nhiên của Brown Tài Ba, đứng về phía Uvedale Price và dần có cảm tình với bố cục hình khối trang trọng của vườn cổ điển Pháp, Ý… Để rồi cuối cùng, ông đưa ra định nghĩa về “Gardenesque”, một phong cách xem từng cây riêng lẻ như một tác phẩm nghệ thuật và dàn đều theo hình khối trên một bãi cỏ rộng, nghĩa là không có sự phối kết. Dĩ nhiên, kết quả là một khu vườn không có cấu trúc rõ ràng và trông chẳng khác gì một bãi tập kết cây xanh. Để hiểu được “tầm cao” của phong cách này thì có lẽ là tôi phải mượn lời của William Robinson (1838 – 1935) vì ông đã gọi cách sắp đặt cây theo phong cách Gardenesque là “hạ thấp nghệ thuật hoa viên thực thụ xuống tầm thiết kế của một đầu bếp làm bánh ngọt”. Ông còn ám chỉ những người ủng hộ phong cách Gardenesque chỉ nên giới hạn bản thân trong việc thiết kế giấy dán tường và thảm (nghĩa là không gian 2 chiều), chứ đừng có đụng tới cảnh quan (nghĩa là làm việc với không gian 3 chiều). Chúng ta không cần phải đi xa hơn trong tiến trình lịch sử để thấy rằng phe Tranh vẽ đã có những bước đi thiếu sáng suốt, làm cho kiểu vườn mà họ ủng hộ mất dần ảnh hưởng rồi biến mất. Còn về phe Tự nhiên, họ đã kịp thời có thêm một cái tên nổi bật nữa trước khi thế kỷ XVIII kết thúc:

Humphry Repton (1752 – 1818)

Repton là một nhà văn có học thức và một họa sĩ tài năng trước khi chuyển sang thiết kế cảnh quan ở tuổi 36. Ông là người đầu tiên tự giới thiệu nghề nghiệp của mình là thiết kế vườn phong cảnh, “chỉnh sửa” những chỗ không hoàn hảo của tự nhiên. Chính vì từ “chỉnh sửa” ấy mà phong cách của Repton có thể xem là sự dung hòa giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hình thức. Thêm vào đó, khi sự nghiệp cảnh quan đã phát triển, Repton đã không còn tạo nên những khu vườn hoàn toàn tự nhiên mà mang những chi tiết của kiểu vườn hình học quay trở lại để tạo sự tương phản cho tiền cảnh. Nhưng về mặt lý luận thì ông ủng hộ Brown Tài Ba và chống lại những người theo phong cách Picturesque. Ông đã cho xuất bản những lý thuyết của mình để bảo vệ những thiết kế của Brown và của bản thân ông trong cuộc tranh luận ác liệt về những phong cách vườn vào cuối thế kỷ XVIII. Và như đã nói ở trên thì phần thắng đã thuộc về Humphry Repton. Sự thành công và sức ảnh hưởng của Repton đã biến ông thành nhà thiết kế vĩ đại cuối cùng của vườn Phong cảnh kiểu Anh thuở ban sơ. Có thể nói, những khu vườn do ông vẽ ra là tiền thân của nhiều phong cách phức tạp và chiết trung hơn trong thế kỷ XIX. Nhưng đó là một câu chuyện khác…

Gọi ngay HOTLINE 077 397 8165 để được hỗ trợ tốt nhất.
Hoặc điền thông tin vào form bên dưới, chúng tôi sẽ liên hệ bạn ngay khi có thể.